THẦN HỌC IMAGO DEI TRONG ÁP DỤNG THỰC TẾ
- Admin
- 7 thg 2
- 6 phút đọc
Đã cập nhật: 7 thg 2
Quý thầy cô thân mến,
Chúng ta đã đi qua các chương 22–25, đào sâu về giáo lý con người: nguồn gốc, Imago Dei, và những thành tố tốt trong bản chất con người. Tác giả khẳng định con người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, mang giá trị đặc biệt mà không một sinh vật nào khác có được, như: lý trí, đạo đức, sáng tạo và khả năng tương giao với Đức Chúa Trời. Ông nhấn mạnh cái nhìn toàn diện về con người, trong đó thân thể và linh hồn hợp nhất, nhằm thực hiện mục đích ban đầu của con người là sống trong sự thông công với Đức Chúa Trời và quản trị thế giới theo ý Ngài. Tuy nhiên, tội lỗi đã làm băng hoại bản chất con người và làm sai mục đích ban đầu ấy. Vì vậy, con người cần đến sự phục hồi nhân vị ban đầu của Đức Chúa Trời trong con người qua ân điển trong Đấng Christ.
Tuần này, chúng ta bước qua chương 26, điểm nổi bật là tính ứng dụng thực tiễn của thần học. Từ giáo lý về Imago Dei, tác giả lập luận rằng mọi người đều có phẩm giá và giá trị bình đẳng; đây là nền tảng thần học cho nhân quyền, công bằng xã hội và sự bảo vệ người yếu thế. Mọi hình thức áp bức, phân biệt hay bóc lột đều đi ngược lại ý muốn của Đức Chúa Trời. Dù tác giả không đi sâu vào vấn đề chính trị, nhưng thế kỷ vừa qua cho thấy chủ nghĩa cộng sản là một ví dụ điển hình đi ngược lại luận chứng thần học này. Do đó, Cơ-đốc nhân không chỉ quan tâm đến sự cứu rỗi cá nhân mà còn được kêu gọi dấn thân cải thiện xã hội. Thần học, theo Erickson, phải dẫn đến hành động yêu thương, công lý và trách nhiệm cộng đồng.
Nhìn lại khía cạnh nội tại, chúng ta gặp phải một số vấn nạn liên quan đến giáo lý này. Khi công nhận Imago Dei trong mỗi người, tại sao sự “bình đẳng” vẫn không được áp dụng tuyệt đối trong Hội Thánh? Và những vấn đề đã thảo luận như: một người đồng tính hay một người phụ nữ có được làm mục sư hay không? Ngoài ra, chúng ta còn thảo luận về việc phá thai và vấn đề Imago Dei trong thai nhi. Tôi đã tiếp nhận nhiều quan điểm khác nhau từ quý thầy cô, và ngay cả tác giả cũng chỉ cung cấp thông tin cơ bản thay vì những câu trả lời đúng sai. Điều này có nghĩa là quý thầy cô cũng có quyền bác bỏ quan điểm của tôi, thể hiện sự tự do học thuật mà Viện chúng ta khuyến khích.
Trước tiên, chúng ta nói về vấn đề người đồng tính làm mục sư: Câu nói “người đồng tính vẫn có thể làm mục sư” từng được vị Giáo sư Viện trưởng của tôi nêu ra. Điều này cho thấy Hội Thánh trong xã hội hiện tại nhìn nhận vấn đề này rộng rãi. Tuy nhiên, đây cũng là một “yếu điểm” trong thần học bình đẳng Imago Dei khi bị hiểu và áp dụng sai. Một sinh viên trong lớp từng nói: “Đức Chúa Trời là Đấng Nhân Từ, vậy thì chúng ta đừng tỏ ra nhân từ hơn Đức Chúa Trời để sửa lại những gì Ngài phán là tội.” Ý sinh viên muốn nhấn mạnh rằng, theo Kinh Thánh, Chúa lên án tội đồng tính, nhưng hiện nay một số giáo sư lại chấp nhận. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời sẽ không kêu gọi một người sống trong hành vi trái với lời Ngài để giảng dạy Hội Thánh.
Mục sư Martyn Lloyd-Jones từng nói rằng vấn đề lớn nhất của Hội Thánh hiện đại là nhiều người bước vào chức vụ mà không có sự kêu gọi thiêng liêng, chỉ vì học thuật hoặc tổ chức. Do đó, nhiều mục sư hiện nay, dù đồng tính hay không, có thể chưa thật sự được kêu gọi bởi Chúa. Điều này dựa trên hai luận điểm:
Thứ nhất, Đức Chúa Trời không mâu thuẫn với chính Ngài; Ngài lên án hành vi đồng tính nhưng sẽ không kêu gọi một người đồng tính để rao giảng lời Ngài chống lại chính hành vi của họ. Kinh Thánh ghi rõ: “Chớ nằm cùng một người nam như người ta nằm cùng một người nữ; ấy là một sự quái gớm” (Lê-vi Ký 18:22) và “Những người đàn ông cũng vậy… đàn ông cùng đàn ông phạm sự xấu hổ…” (Rô-ma 1:26–27).
Thứ nhì, Đức Chúa Trời sẽ không kêu gọi một người có lối sống trái với tiêu chuẩn đạo đức của Ngài để giảng dạy và hướng dẫn Hội Thánh. Người mục sư phải “không chỗ trách được”, làm gương cho bầy chiên, và sống phù hợp với giáo lý lành mạnh (I Ti-mô-thê 3:1–7; Tít 1:6–9).
Bây giờ chúng ta thảo luận vấn đề người nữ cũng được bình đẵng trong chức vụ mục sư: Trong lớp này, quý thầy cô đã có nhiều quan điểm khác nhau, phấn lớn các quan điểm của quý thầy cô đưa ra là vì ảnh hưởng từ quan điểm của giáo hội của mình, mặc dầu mỗi người đều có “lý lẽ đúng” từ Kinh Thánh. Đối với tôi thì đây là một vấn đề rất khó để giải quyết theo một hướng nào đó dù là bảo thủ hay phóng khoán. Tuy nhiên, tôi sẽ không để quan điểm của mình bị lệ thuộc vào quan điểm của giáo phái để ôm lấy những phần Kinh thánh có lợi cho quan điểm của mình mà bỏ qua chân lý thật sự của Kinh thánh về vấn đề này.
Kinh Thánh cho thấy Đức Chúa Trời thiết lập trật tự lãnh đạo nam giới trong gia đình và Hội Thánh, nhưng Ngài cũng hành động tự do khi kêu gọi phụ nữ vào những vai trò phục vụ quan trọng. Chúng ta nên tiếp cận vấn đề giới tính với tinh thần cởi mở, tránh biến lập trường thành giáo điều cứng nhắc.
Ví dụ: Chúa Giê-xu chọn mười hai sứ đồ đều là nam (Lu-ca 6:13). Phao-lô yêu cầu trưởng lão và giám mục phải là “chồng của một vợ” (I Ti-mô-thê 3:2; Tít 1:6), cho thấy mô hình lãnh đạo nam giới là nguyên tắc. Tuy nhiên, Kinh Thánh ghi nhận các ngoại lệ: Đê-bô-ra (Các Quan Xét 4–5), Hun-đa (II Các Vua 22:14), Bê-rít-sin dạy dỗ A-bô-lô (Công Vụ 18:26), Phê-bê là chấp sự (Rô-ma 16:1), và Giu-ni-a là sứ đồ (Rô-ma 16:7). Những ví dụ này cho thấy Đức Chúa Trời ban ân tứ và kêu gọi theo ý Ngài, vượt ra ngoài trật tự con người.
Chúng ta nên giữ sự cân bằng Kinh Thánh: tôn trọng mô hình chung của Chúa đã thiết lập, nhưng mở lòng trước công việc bất ngờ của Đức Thánh Linh, để tránh biến lập trường cá nhân thành giáo lý cứng nhắc-loại bỏ hoàn toàn vai trò của người nữ trong các chức vụ mục sư.
Sau cùng, chúng ta thảo luận về vấn đề phá thai và Imago Dei trong thai nhi: Quý thầy cô đã có những quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung thì đa số có đồng quan điểm mỗi người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 1:26–27) và giá trị này không phụ thuộc vào tuổi tác mà gắn liền với bản thể ngay từ lúc hiện hữu. Thai nhi là con người mang Imago Dei ngay từ lúc hình thành. Quan điểm này được Kinh Thánh hỗ trợ: Thi Thiên 139:13–16 mô tả Đức Chúa Trời “dệt nên con trong lòng mẹ”, Giê-rê-mi 1:5 khẳng định “Chúa đã biệt riêng ông từ trong lòng mẹ.” Do đó, thai nhi không phải là hữu thể sinh học vô danh, mà là nhân vị được Đức Chúa Trời tạo dựng, biết đến và kêu gọi.
Trong khi thần học hiện đại và triết lý hiện sinh cho rằng phẩm giá con người phụ thuộc vào chức năng mà không phải bản thể. Vì thế việc phá thai được chấp nhận và khuyến khích, vì đó là việc làm mang tính nhân bản vì đề cao sự tự do chọn lựa của người mẹ.
Quan điểm truyền thống được Kinh Thánh ủng hộ. Quan điểm này đòi hỏi chúng ta là người cha/mẹ phải có trách nhiệm với việc làm của chúng ta, và bảo vệ “quyền sống” của thai nhi. Đồng thời lên án việc phá thai là cố ý chấm dứt sự sống của một con người theo đúng nghĩa Imago Dei. Nó cũng đồng nghĩa với việc xâm phạm điều răn “chớ giết người” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:13). Tôi theo quan điểm của thần học Cơ-đốc truyền thống vì nó nhấn mạnh giá trị con người dựa trên bản thể, không phải chức năng như thần học hiện sinh.
Tôi ghi nhận công khó của tất cả quý thầy cô trong việc đọc và hiểu sách giáo khoa thể hiện qua các bài thảo luận của mình. Thầy Năng đã làm tốt công tác trực tuần.



Bình luận