NGUỒN GỐC CỦA TỘI LỖI
- Admin
- 14 thg 2
- 9 phút đọc
Đã cập nhật: 14 thg 2
Quý thầy cô thân mến!
Chương 28 nói về nguồn gốc của tội lỗi. Theo quan điểm truyền thống thí chúng ta tin rằng nguồn gốc của tội lỗi ngày nay là hệ quả của sự sa ngã của tổ phụ loài người là A-đam. Hoặc nói theo từ ngữ y-học thì đó là tính di truyền sẵn có trong mỗi con người trên thế giới này. Nhưng tại đây chúng ta đặt ra câu hỏi rằng: Nếu chúng ta tin rằng tội lỗi của con người đến từ sự sa ngã của A-đam (nguyên tội), vậy thì con người ngày nay phạm tội dường như là điều tất yếu. Nếu thế, con người có còn phải chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình hay không?
Để trả lời câu hỏi này thì chúng ta phải lần lược nhìn lại cách mà một số nhà thần học đã giải thích về nguồn gốc của tội lỗi như sau:
Theo Frederic Tennant thì nguồn gốc của tội lỗi là phần thú tính còn sót lại trong tiến trình tiến hóa của loài người. Theo nguyên thủy thì những thú tính đó chỉ là những cách để thỏa mãn những nhu cầu thể chất, nó không phải là tội lỗi mà đôi khi nó còn có ích lợi. Nhưng sau khi xã hội loài người phát triển thì những quy định về hành vi con người được hình thành và từ đó thì khái niệm về tội lỗi mới được hình thành. Nói cách khác, ông cho rằng khi con người còn “bầy đàn” thì chưa có khái niệm tội lỗi mà chỉ là hành vi thuộc bản năng, còn xã hội ngày nay gọi là tội lỗi thì đó chỉ là một cách gọi khác đi mà thôi.
Đối với Reinhold Niebuhr thì tội lỗi liên hệ đến tôn giáo và đạo đức hơn là tính chất phổ quát. Khía cạnh tôn giáo cho rằng tội lỗi là phản nghịch Đức Chúa Trời. Còn khía cạnh đạo đức thì tội lỗi là những việc bất công của con người đối với người khác. Từ đó ông giải thích rằng con người đã không nhận ra sự hữu hạn của mình, nhưng con người lại có ham muốn vượt qua giới hạn của mình, như cách mà chính A-đam đã làm. Từ đó, con người cảm nhận sự bất an nội tâm và cố tìm cách tự trấn an bằng những việc làm đạo đức hoặc tôn giáo. Ngoài ra, ông cũng cho rằng đời sống con người thường làm theo nhục cảm tính, đó chính là hình thức hạ thấp đời sống con người xuống hàng thú vật để chỉ biết sống theo bản năng. Reinhold đã đã nhấn mạnh vào nỗ lực cá nhân cộng với đức tin để chiến thắng tội lỗi. Nhưng ông đã phủ nhận nguồn gốc nguyên thủy (nguyên tội) của tội lỗi khi cho rằng: “bản thân tính hữu hạn của con người không phải là tội lỗi mà chỉ tạo cơ hội cho tội lỗi.” Reinhold cũng không đề cập đến sự tái sinh của Đức Thánh Linh mới là phương tiện chủ yếu để chiến thắng tội lỗi. Vì thế, tác giả đánh giá quan điểm của Reinhold như sau: “Việc không nhìn nhận nhu cầu được Đức Chúa Trời biến đổi đã làm suy yếu những luận điểm của Niebuhr.
Tillich là người theo chủ nghĩa hiện sinh nói rằng, Sáng Thế Ký đoạn 3 không nên hiểu theo nghĩa đen, nhưng phải hiểu đó chỉ là sự ly khai (với Đức Chúa Trời) của con người. Ông chấp nhận xem sự ly khai là tình trạng tội lỗi, nhưng sự ly khai không phải lúc nào cũng đồng nhất với tội lỗi. Ngoài ra, Tillich cực lực phản đối quan điểm kết hợp sự rủa sả của Chúa trên thiên nhiên để chứng minh cho sự sa ngã (phạm tội) của A-đam sau khi phạm tội. Nói cách khác, ông có cùng quan điểm với Origen khi cho rằng con người đã có tính “ly khai” từ trước câu chuyện sa ngã của A-đam trong Sáng Thế Ký. Ông chứng minh rằng một đứa trẻ được sinh ra và lớn lên thì đã có tính ly khai trong suốt quá trình đó, chứ không phải đến khi đứa bé lớn lên rồi mới có ý nghĩ hay hành động ly khai. Tác giả giải thích rằng: Tillich muốn trình bày một hệ thống phi thời gian, không phải nhân loại hoàn toàn trong sạch hay hoàn toàn sa ngã ở một thời gian nào đó. Trái lại, mọi người vào mọi thời điểm đều bị ly khai bởi sự lựa chọn của chính mình. Nói cách khác, Tillich cho rằng con người có sự tự do, và đã sử dụng sự tự do để đưa họ đến sự ly khai mà quan điểm chính thông gọi đó là sa ngã hay nguồn gốc của tội lỗi. Tác giả đặt lại vấn đề đối với quan điểm của Tillich như sau: “Mâu thuẫn cần giải quyết hay ít nhất cũng cần được làm sáng tỏ ở đây là giữa sự tự do lựa chọn với sự trùng hợp giữa sáng thế và sa ngã.”
Gustavo Gutierrez người đại diện cho thần học giải phóng. Theo tác giả thì thần học giải phóng rất gần với chủ nghĩa Marx khi cho rằng: “tội lỗi chủ yếu không phải là sự không trong sạch về tôn giáo mà là sự áp bức về xã hội, chính trị và kinh tế đối với người nghèo. Đó là sự phủ nhận nhân quyền của người lân cận thông qua những cơ cấu bất công về chính trị và kinh tế.” Vì thế, giải pháp là loại bỏ bất công, xây dựng lại sự công bình trong xã hội hay thậm chí là tái phân phối lại kinh tế và quyền lực xã hội thì sẽ giải quyết được vấn đề tội lỗi. Tất nhiên, Cơ-đốc nhân cần phê phán sự bất công trong xã hội, nhưng không thể xem nguồn gốc của tội lỗi là nằm ở các vấn đề của xã hội. Dầu vậy, điểm sáng của quan điểm này là chỉ ra sự yếu nhược của những người đang gánh chịu sự bất công. Như Cones nói rằng, “tội lỗi của họ là cố gắng để ‘thông cảm’ kẻ bắt người khác làm nô lệ, cố gắng ‘yêu thương’ hắn theo cách mà hắn muốn chúng ta phải yêu thương.” Ý của Cones là, kẻ cầm quyền tiếp tục làm điều bất công và tội ác, nhưng họ lại muốn Hội Thánh phải thực hiện sự yêu thương đối với những tội ác của họ, và đó chính là “tội lỗi” của những người đáp ứng với quan điểm thần học đó cách thụ động. Đối với quan điểm của thần học giải phóng này thì tác giả cho rằng, con người dù ở trong một xã hội thế nào thì vẫn có một khuynh hướng phạm tội. Dù có “sự phân phối lại quyền lực và của cải vẫn không loại trừ được tội lỗi.”
Harrison Sacket Elliott theo chủ nghĩa cá nhân thì hoàn toàn phủ nhận giáo lý nguyên tội. Ông cho rằng con người hoàn toàn không có tội gì cả, mặc dù ông vẫn nhìn nhận sự hiện diện của tội lỗi. Elliott cho rằng có sự sai lầm khi cho rằng Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải hoàn toàn thiện hảo, và xem Chúa là Đấng xa cách thay vì xem Ngài là Đấng gần gủi và yêu thương. Ông cho rằng tội lỗi không phải là tên gọi cho một loại hành vi nào đó, vì mỗi văn hóa có sự quy định khác nhau về đạo đức đối với cùng một hành vi nào đó. Ví dụ nhiều văn hóa xem việc cưới gả người bà con là tội loạn luân, nhưng đối với một số nền văn hóa khác đó là việc hợp pháp. Tiếp theo, ông cho rằng, tuyên bố một con người là tội nhân là không thỏa đáng, vì có thể khiến con người quay lại làm hại chính họ. Ông còn dựa vào tâm lý học để khẳng định rằng con người không có một bản tánh cố định nào, ngược lại con người có thể thay đổi những điều được cho là “bản năng” để trở nên tốt đẹp hơn. Ông nói: “Khả năng phát triển thành ‘thánh’ hay ‘quỷ’ tuỳ thuộc vào điều gì xảy ra cho bản tánh ban đầu đó trong những từng trải của cuộc sống.” Nói tóm lại, Elliott không tin vào nguyên tội, nhưng tin vào giáo dục có thể thay đổi con người. Tác giả nhận định về quan điểm của Elliott như sau: “những đề nghị của Elliot có vẻ gần như là khôi hài, cả những người tán thành quan điểm của ông gần đây cũng bị xem như vậy.”
Tóm lại: Nếu nói như Tennant, tội lỗi chỉ là những bản năng tự nhiên còn lưu lại của tổ tiên khi còn là loài vật thì đó chính là thuyết tiến hóa, nó không phải thuyết sáng tạo và phủ nhận giáo lý Imago Dei. Còn nếu chấp nhận quan điểm của Niebuhr là tội lỗi bắt nguồn từ sự lo lắng trước sự hạn chế của mình, và từ sự cố gắng bằng những nỗ lực riêng của chính mình để giảm thiểu tội lỗi, thì đây là một hình thức gần với các tôn giáo phi-Cơ-đốc. Còn Tillich thì liên kết tội lỗi với sự ly khai về mặt hiện sinh của con người để phủ nhận sự sa ngã tại thời điểm ăn trái cấm trong vườn Ê-đen, thì đây chính là sự sai lầm trong việc giải kinh và phủ nhận tính toàn vẹn của Kinh Thánh về sự sa ngã. Đối với quan điểm của thần học giải phóng là tìm giải pháp cho nan đề tội lỗi bằng sự loại trừ áp bức và bất công về của cải và quyền lực, thì quan điểm này loại bỏ sứ mạng quan trọng là truyền bá Phúc âm cho người khác. Sau cùng, theo cách nói của Elliot thì giáo dục là giải pháp cho vấn đề tội lỗi, thì tại sao thế giới ngày nay tội lỗi lại đang tăng theo đà tỷ lệ thuận với giáo dục?
Như vậy, theo quan điểm truyền thống thì nguồn gốc của tội lỗi không phải là sự tiến hóa chưa hoàn tất, sự hụt hẫng và lo lắng nội tâm, sự ly khai, xã hội bất công, hay sự thiếu sót về giáo dục, nguồn gốc của tội lỗi chính là sự sa ngã của A-đam mà thần học gọi là nguyên tội. Vì thế, sự chữa trị tội lỗi cần được thực hiện qua một sự thay đổi con người cách siêu nhiên được gọi là sự tái-sanh. Và nhờ đó con người mới có đủ năng lực để chống trả lại sức mạnh của sự cám dỗ. Chính sự tái sanh và thay đổi cá nhân đem con người bước vào mối tương giao với Đức Chúa Trời, từ đó giúp cho người ấy có thể sống một đời sống Cơ đốc nhân đắc thắng.
Sau cùng, để trả lời cho câu hỏi ban đầu thì tác giả nói: “Điều quan trọng cần phải chú ý trước tiên là tội lỗi không phải là do Đức Chúa Trời gây ra.” (Gia 1:13) Chúa có đặt trong chúng ta một số ước vọng tự nhiên vẫn là tốt, nhưng chúng cũng là tiềm năng cho cám dỗ và tội lỗi mà mỗi con người cần phải sử dụng quyền tự do của mình để chọn lựa và quyết định đúng đắn. Bởi vì, mọi sự thỏa mãn một ước muốn cách không đúng đắn đều đều trở thành tội lỗi” (IGi 2:16), và chúng ta phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình. Ví dụ: khi mong muốn làm giàu trở nên mãnh liệt đến mức làm bằng mọi giá như bóc lột hay trộm cắp của người khác (Gi 2:16). Ngược lại, chúng ta cần nhớ rằng trong sự cám dỗ của Chúa Giê-xu, Sa-tan đã gợi lên những mong muốn chính đáng nhưng Ngài đã quyết định từ chối.
Còn về câu hỏi: Theo triết học khai sáng của Jean-Jacques Rousseau, chủ nghĩa Marx của Karl Marx và Friedrich Engels, chủ nghĩa xã hội không tưởng (trước Marx) của Owen, Fourier, cho rằng: “chỉ cần thay đổi môi trường xã hội thì con người sẽ trở nên tốt hơn-ít tội lỗi hơn." Trong phần nói về thần học giải phóng ở trên thì chúng ta đã trả lời cho câu hỏi này. Chủ nghĩa cộng sản đã có một thế kỷ vừa qua để thí nghiệm về giả thuyết này, kết quả là những xã hội được Marx-hóa lại là những nơi nhiều tội lỗi nhất. Xã hội và giáo dục có thể làm bớt đi tội lỗi là khi nó áp dụng những chân lý của Kinh Thánh và khuyến khích sự tự do truyền bá Phúc âm.
Tôi hơi thất vọng vì phấn lớn quý thầy cô đã không đi sát với sách giáo khoa mà lạm dụng AI để đưa ra những câu trả lời dài dòng mà không có hồn. Cô Kim Ly làm tốt công tác trực tuần.



Bình luận