top of page

CHIỀU KÍCH XÃ HỘI CỦA TỘI LỖI

  • Ảnh của tác giả: Admin
    Admin
  • 16 giờ trước
  • 9 phút đọc

Quý thầy cô thân mến,

 

Tuần này chúng ta đã thảo luận chương 31 về vấn đề chiều kích xã hội của tội lỗi. Khi tác giả nói “chiều kích xã hội” là nói đến khía cạnh cộng hưởng của tội lỗi trong một tập thể con người trong xã hội. Cụ thể, tác giả cho rằng chính phủ của các quốc gia đã tạo ra những tội lỗi có hệ thống trong các lĩnh vực xã hội. Cho nên, nếu có một người phủ nhận tội lỗi cá nhân thì anh ta cũng đang dự phần vào các công việc tội lỗi của một hệ thống nào đó trong xã hội.

 

Tác giả khuyến cáo người tin Chúa không phải chỉ biết nói về một niềm tin đắc thắng, nhưng cần phải sáng suốt nhận ra những hệ thống tội lỗi của xã hội, đồng thời chống lại những loại tội lỗi mang tính cấu trúc này. Tác giả viết: “Nhưng chúng ta cũng cần phải đi tiên phong trong việc chống lại tội lỗi về mặt xã hội qua việc tìm kiếm những chiến lược đối phó với nó.”

 

Tác giả nói đến một nan đề là nhiều người không nhận ra những tội lỗi có tính cấu trúc trong xã hội, và rồi chính họ lại là những người tích cực dự phần vào các hệ thống tội lỗi đó. Hoặc cũng có thể họ dự phần một cách thụ động và vô thức. Tác giả cho rằng những nghị quyết, nghị định, luật lệ được chính phủ đưa ra nhưng thiếu sự liêm chính và công bình, gây ra sự bách hại và bất công cho toàn xã hội hoặc cho một tầng lớp nào đó, nhưng chúng ta lại cộng tác bằng việc bỏ phiếu cho những con người hoặc các dự luật đó, hoặc là chúng ta ủng hộ ngầm vì không lên tiếng hay không bỏ phiếu chống lại chúng. Tác giả nói: “Những người như vậy dự phần vào điều ác qua sự can dự về tài chánh – thông qua thuế hoặc lệ phí, qua sự trực tiếp tán thành bằng cách bỏ phiếu, hay qua sự ủng hộ ngầm bởi không phản đối hay chính thức phản kháng.”

 

Từ đó cho thấy quan điểm của tác giả ủng hộ việc người tin Chúa phải là một nhóm người không chỉ tích cực trong việc chống lại những tội lỗi cá nhân mà còn phải chống lại những tội lỗi mang chiều kích xã hội. Tác giả chỉ ra những lý do tại sao chúng ta không nhận ra và không chống lại những tội lỗi mang tính cấu trúc.

 

Thứ nhất, vì chúng ta thường gán trách nhiệm cho người khác và cho rằng tiếng nói của mình không thay đổi được điều gì. Tôi cho rằng đây chính là vấn đề tồi tệ nhất của các Cơ-đốc nhân người Việt Nam hiện nay. Nhiều người thường lập luận rằng: “Tôi không quan tâm”, hay “Nói làm gì, cũng có thay đổi được gì đâu.”

 

Thứ hai, vì nhiều người trong chúng ta đang thuộc về hoặc có mối liên hệ với những người trong hệ thống tội lỗi đó, nên chúng ta không chống đối mà cũng không ủng hộ. Điều này cũng rất thực tế, vì khi quan sát tôi nhận ra có một tỷ lệ không nhỏ Cơ-đốc nhân có xuất thân từ gia đình cộng sản. Vì thế họ vẫn còn ủng hộ hoặc chọn thái độ im lặng trước những bất công trong xã hội Việt Nam.

 

Thứ ba, một số người vì sự ích kỷ cá nhân mà thỏa hiệp hoặc chọn thái độ im lặng vì chính họ đang là những người hưởng lợi từ những chính sách bất công trong xã hội đó.

 

Thứ tư là thái độ tự kiêu. Tác giả giải thích hình thức này là những người không nhận ra sự tội lỗi trong một hệ thống xã hội mà họ đang tham dự. Ngược lại, họ còn tự mãn và cho rằng hệ thống xã hội đó là siêu việt hơn những xã hội khác, như chúng ta vẫn thường nghe các bạn trẻ Việt Nam nói: “Việt Nam mãi đỉnh.”

 

Sau cùng, tác giả chỉ ra một số người tham dự vào tội lỗi có hệ thống vì họ cho rằng mình chỉ tham gia một cách gián tiếp. Ông đưa ra ví dụ: một người trực tiếp tiếp thị một sản phẩm lỗi và một công nhân làm trong nhà máy sản xuất sản phẩm đó sẽ không cảm thấy rằng mình đang dự phần vào tội lỗi như người tiếp thị kia. Tác giả nói: “Trong nhiều trường hợp, chúng ta không biết được tổ chức trong đó chúng ta là công dân, cổ đông hay thành viên thực sự đang làm gì, và do đó chúng ta có thể dự phần vào tội lỗi nhưng không thực sự ý thức hay cảm nhận về trách nhiệm của mình.”

 

Trở lại với Kinh Thánh, tác giả giải thích từ “thế gian” là kosmos trong nguyên văn, không chỉ nói đến thế giới hay nhân loại mà còn có ý nghĩa “chỉ về một sức mạnh thuộc linh thực sự, có thể nói là đối lập hoàn toàn với nước của Đức Chúa Trời.” Tác giả trưng dẫn những lần Chúa Giê-su và Sứ đồ Phao-lô sử dụng thuật ngữ “thế gian” này để mô tả một thế lực của hệ thống con người trên trần gian chống lại đạo Đấng Christ.

 

Từ đây chúng ta nhận ra sự sai lầm của quan điểm thần học cho rằng mọi tội lỗi đều quy cho Sa-tan là tác nhân, thay vì nhận ra còn có những đối tượng khác chính là con người và các hệ thống chính quyền tà ác đang bị Sa-tan sử dụng. Tác giả viết: “Kosmos hay hệ thống gian ác này đang chịu sự kiểm soát của ma quỷ.”

 

Nói đến đây thì nhiều người trong chúng ta sẽ có câu hỏi trong đầu: người tin Chúa phải làm gì trước những tội lỗi mang tính cấu trúc này? Quan điểm của tác giả rất rõ ràng là người tin Chúa phải chống lại các hệ thống tội lỗi này một cách tích cực chứ không phải im lặng hoặc thụ động.

 

Tác giả trích dẫn Phi-líp 2:15 và Ma-thi-ơ 5:16 – lời của Sứ đồ Phao-lô và của chính Chúa Giê-su – khuyên Cơ-đốc nhân phải là “ánh sáng” cho thế gian này thay vì thụ động bước đi trong bóng tối của nó. Tác giả viết: “Tuy nhiên người tin Chúa không phải đơn thuần là tránh né thế gian. Đó chủ yếu là một phương cách tiêu cực và chủ bại. Đấng Christ vui lòng đến với thế gian thì người tin Chúa cũng phải vui lòng thực thi và bày tỏ sự công chính trước mặt thế gian để xua đi sự tối tăm của nó.”

 

Chúng ta sẽ hỏi tại sao tác giả lại khuyến khích người tin Chúa phải tích cực chống lại những tội lỗi mang tính hệ thống. Bởi vì khi nói đến Sa-tan là một thế lực vô hình thì thế gian (kosmos) là một thực thể có thật và hiện hữu cách hữu hình để chống lại ý muốn và đạo đức của Đấng Christ. Tác giả viết: “Thế gian với tư cách là cả một hệ thống sức mạnh thuộc linh có tổ chức là một sự thực. Nó chính là hiện thân của điều ác.”

 

Tác giả xác định cái gọi là thế gian này chính là những thế lực chính trị và các hệ tư tưởng thuộc về những kẻ ác, điển hình như các xã hội thuộc chủ nghĩa cộng sản, các tổ chức mafia, các tập đoàn kinh tế bất chính hay những hình thức tương tự khác.

 

Tác giả còn trích lời của John Howard Yoder cho rằng những kiểu mẫu này gồm cả những cơ cấu trí năng như các ngành nghiên cứu hay học thuyết, và các cơ cấu xã hội như những người thống trị, thị trường, trường học, tòa án, chủng tộc và quốc gia. Bởi lẽ chúng kiểm soát, hay ít ra là có ảnh hưởng đối với con người, nên chúng cũng là những thế lực tội lỗi.

 

Tóm lại, các thế lực này chính là những hệ thống ý thức hệ, xã hội, chính trị, kinh tế, thậm chí là những tổ chức mang danh nghĩa nhân đạo nhưng chống lại hệ thống đạo đức của Đức Chúa Trời và giá trị đạo đức của đạo Đấng Christ. Tác giả viết: “Nó là một thực thể bao trùm, tồn tại riêng biệt khác với những kẻ ác; nó là cơ cấu của mọi thực tại tách biệt khỏi Đức Chúa Trời. Nó là một hệ tư tưởng và hệ thống giá trị hoàn toàn khác biệt và đối kháng với hệ tư tưởng và hệ thống giá trị của Đấng Christ và các môn đồ Ngài.”

 

Vì thế, tác giả khuyên người tin Chúa không phải chỉ tránh không liên hệ đến những tội lỗi mang tính hệ thống của thế gian này, nhưng còn phải tạo ra một sự đối lập với chúng. Tác giả viết: “Đây không chỉ là vấn đề tránh né những việc làm của thế gian. Cần phải có cả một hệ thống những thái độ và giá trị hoàn toàn khác biệt.”

 

Vậy câu hỏi sau cùng là: làm thế nào để khắc phục hay chống lại những tội lỗi của chiều kích xã hội này?

 

Tác giả khuyến khích rằng nếu chúng ta nỗ lực hạn chế những tội lỗi mang tính cá nhân thì chúng ta cũng phải tìm ra một phương cách để chống lại những tội lỗi mang tính cấu trúc xã hội. Tác giả viết: “Nếu đồng ý rằng có một chiều kích của tội lỗi và điều ác vượt quá chiều kích của những con người riêng biệt hay cá thể, thì cũng cần phải xác định nên dùng phương pháp nào khi cố gắng giải quyết tội lỗi tập thể.”

 

Trước tiên, chúng ta thường nghe nhiều người tin Chúa cho rằng không có phương pháp nào tốt hơn là khiến cho mọi người trong xã hội tin Chúa thì xã hội sẽ được biến đổi. Tác giả gọi những người thuộc quan điểm này là Tin Lành thuần túy. Mới nghe thì đây là một lý luận rất thuộc linh, nhưng thực chất đó có thể trở thành một bức bình phong cho những người thỏa hiệp cách thụ động với tội lỗi cấu trúc.

 

Bởi vì tội lỗi trong chiều kích xã hội là tỷ lệ nghịch với tỷ lệ những người trong xã hội được biến đổi bởi Phúc Âm. Nói cách khác, tội lỗi cấu trúc ngày một gia tăng, còn Hội Thánh thì vẫn giậm chân tại chỗ trong sự tăng trưởng. Chưa nói đến việc những tội lỗi mang tính cấu trúc đôi khi lại phát sinh ngay trong Hội Thánh, khi những nhà lãnh đạo Hội Thánh tham dự vào các hệ thống xã hội tội lỗi. Tác giả cho rằng quan điểm này là không tưởng: “Đây là chiến lược tái sanh, mà theo cách riêng của nó chính là một hình thức không tưởng. Đó là vì chiến lược này khẳng định rằng nếu mọi người trong xã hội được biến đổi thì bản thân xã hội cũng sẽ được biến đổi.”

 

Từ lập luận đó, tác giả đề xuất một giải pháp khả thi hơn, có thể gọi là chiến lược cải cách. Tác giả viết: “Khả năng thường được ủng hộ nhiều nhất là sửa đổi hình thái chính trị của xã hội bằng con đường chính trị. Xã hội phải được cơ cấu lại bởi những nhà lập pháp có quyền biểu quyết để thông qua những đạo luật làm thay đổi những điều kiện bất cập. Phải biến điều ác thành bất hợp pháp.”

 

Tôi cần làm rõ rằng ngữ cảnh ở đây là tác giả đang nói đến một xã hội có cơ cấu chính trị tự do. Đối với một xã hội độc tài như Việt Nam hiện nay thì phương pháp này khó lòng thực hiện. Tuy nhiên, cũng không phải là bất khả thi, bởi vì các nước Đông Âu đã bắt đầu bằng việc thay đổi thể chế chính trị độc tài và đưa xã hội đến một nền dân chủ. Nếu Cơ-đốc nhân Việt Nam không gieo trồng quan điểm thần học này ngay từ hôm nay thì sẽ không có điều gì xảy ra trong tương lai.

 

Tác giả cũng đề xuất một giải pháp tẩy chay, hay nói cách khác là một hình thức bất tuân dân sự hoặc biểu tình bất bạo động, như những nhà đấu tranh phi bạo lực đã thực hiện thành công, tiêu biểu như Mahatma Gandhi và Martin Luther King Jr.

 

Tác giả cũng không ủng hộ phương pháp cách mạng của thần học giải phóng, vì đây là một phương pháp quá cực đoan. Quan điểm này cho rằng: “Cách triệt để nhất đối với việc thay đổi cơ cấu xã hội là hủy phá hay dẹp bỏ chúng và thay thế bằng những cơ cấu khác, có sử dụng vũ lực nếu cần.”

 

Cuối cùng, tác giả khẳng định rằng ông không có ý định đưa ra một giải pháp duy nhất để xem như kim chỉ nam cho việc thay đổi tội lỗi mang tính cấu trúc. Tác giả viết: “Tuy việc làm theo chiến lược nào để giải quyết điều ác là một đề tài vượt quá phạm vi của bài viết này.”

 

Tuy nhiên, tác giả cũng cho thấy rõ rằng việc khiến con người trong xã hội được tái sanh vẫn là điều cần thiết trong chiến lược lâu dài, đồng thời cần kết hợp với những nỗ lực cải cách xã hội một cách ôn hòa. Tác giả kết luận: “Sự kết hợp tái sanh với cải cách ôn hòa dường như sẽ mang lại hy vọng tốt nhất để chống lại tội lỗi và điều ác trong thế giới của chúng ta.”


Tôi nghi nhận tinh thần thảo luận tích cực của quý thầy cô. Cảm ơn cô Hằng đã tình nguyện làm tốt công tác trực tuần.

 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
TÍNH NGHIÊM TRỌNG CỦA TỘI LỖI

Quý thầy cô thân mến, Tuần này chúng ta đã cùng nhau thảo luận trong chương 30 về tầm mức nghiêm trọng của tội lỗi. Khi nói đến tội lỗi thì phải đi liền với con người, vì tội lỗi được sinh ra bởi con

 
 
 
NGUỒN GỐC CỦA TỘI LỖI

Quý thầy cô thân mến! Chương 28 nói về nguồn gốc của tội lỗi. Theo quan điểm truyền thống thí chúng ta tin rằng nguồn gốc của tội lỗi ngày nay là hệ quả của sự sa ngã của tổ phụ loài người là A-đam. H

 
 
 
THẦN HỌC IMAGO DEI TRONG ÁP DỤNG THỰC TẾ

Quý thầy cô thân mến, Chúng ta đã đi qua các chương 22–25, đào sâu về giáo lý con người: nguồn gốc, Imago Dei, và những thành tố tốt trong bản chất con người. Tác giả khẳng định con người được dựng nê

 
 
 

Bình luận


bottom of page