HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI
- Admin
- 28 thg 2
- 9 phút đọc
Quý thầy cô thân mến!
Tuần này chúng ta đã thảo luận trong chương 29 về hậu quả của tội lỗi. Hai vấn đề quan trọng mà chúng ta đã thảo luận là: Có phải hậu quả của tội lỗi chính là thuyết nhân quả như trong niềm tin của nhiều tôn giáo khác hay không? Và nếu A-đam không phạm tội thì có phải ông không có sự bất diệt hay không? Trước khi trả lời hai vấn đề này, chúng ta hãy cùng xem lại những điểm quan trọng trong nội dung của chương này.
Trước tiên, khi nói đến hậu quả của tội lỗi thì sự đánh mất mối tương giao giữa con người với Đức Chúa Trời là điều đáng quan tâm nhất. Không phải chỉ kinh nghiệm hiển nhiên của A-đam đã chạy trốn Đức Chúa Trời sau khi phạm tội, nhưng mỗi đời sống chúng ta ngày nay cũng như vậy: sau mỗi lần phạm tội, chúng ta cảm nhận sự khô hạn tâm linh, không còn sự cầu nguyện ngọt ngào như trước khi phạm tội. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây chính là thực trạng chung của nhân loại — vì phạm tội mà con người xa cách Đức Chúa Trời. Con người rất dễ dàng thờ phượng, tôn kính một thần tượng nhưng lại rất khó tin cậy và tương giao với Đấng Tạo Hóa.
Vấn đề thần học được đặt ra ở đây là: Có phải vì con người phạm tội nên Đức Chúa Trời xa cách họ, hay là tại con người tự xa cách Đức Chúa Trời? Nói cách khác, khi con người phạm tội thì họ trở nên ghét và thù địch với Đức Chúa Trời hay ngược lại? Tác giả nói: “Họ đã làm cho mình đối lập với Đức Chúa Trời và trở nên kẻ thù của Ngài. Không phải Đức Chúa Trời đã thay đổi hay đổi ý nhưng chính là A-đam và Ê-va.” (trang 477)
Tôi cũng chia sẻ quan điểm của tác giả khi cho rằng Đức Chúa Trời không thay đổi thái độ hay mối quan hệ của Ngài với con người mà chính con người đã xoay khỏi mối quan hệ đó. Điều này hoàn toàn đúng theo “văn mạch” của Kinh Thánh và cũng đúng đối với trải nghiệm của chúng ta. Như chúng ta đã thấy, nhân loại phỉ báng, chống đối, xuyên tạc về sự tốt lành và ân điển của Đức Chúa Trời, nhưng Ngài vẫn tiếp tục yêu thương, tìm kiếm những người “lạc mất” đó trở về.
Một vấn đề thần học khác lại được nảy sinh ở đây: nếu nói Đức Chúa Trời không thay đổi đối với con người tội lỗi, vậy có phải là Ngài chấp nhận hành vi tội lỗi của con người hay không? Tác giả đã dùng ẩn dụ như sau: “Nếu chúng ta tuân thủ luật pháp, chúng ta sẽ không e sợ gì khi gặp một cảnh sát viên. Thậm chí có thể chúng ta còn cảm thấy dễ chịu khi nhìn thấy một chiếc xe cảnh sát.” Tác giả muốn nói rằng cảnh sát không có ác ý hay thù địch với bất cứ ai, nhưng công việc của cảnh sát là ngăn chặn tội ác. Cũng vậy, Đức Chúa Trời không có thù địch với người phạm tội, nhưng Ngài không chấp nhận tội lỗi; và để ngăn chặn tội lỗi thì Ngài cũng phải có biện pháp đối với chính con người là những người gây ra tội lỗi.
Vì thế, nhiều lần trong Cựu Ước nói rằng Đức Chúa Trời ghét sự ác và sự không công bình. Tác giả giải thích về điều này như sau: “Tuy ít khi nói Đức Chúa Trời căm ghét kẻ ác, nhưng Cựu Ước thường nói rằng Ngài tức giận họ. Không nên xem cơn giận của Đức Chúa Trời như sự giận dữ bộc phát không kìm chế nổi hay một sự thù hằn cá nhân. Trái lại, cơn giận này phải hiểu là mang bản tính công bình.”
Nói tóm lại, Đức Chúa Trời không trở nên thù nghịch với tội nhân (nhân loại); trái lại, Ngài yêu thương tội nhân. Tuy nhiên, vì Ngài yêu thương con người nên Ngài buồn lòng khi con người phạm tội; hay như tác giả nói, Ngài thất vọng về tội lỗi của con người bởi vì bổn tánh của Ngài là thánh khiết. Như tác giả nói: “Theo những điều đã nói ở trên, hiển nhiên là Đức Chúa Trời không tán thành tội lỗi; thật vậy, tội lỗi làm cho Đức Chúa Trời giận dữ, thạnh nộ hay buồn lòng.” Từ phản ứng của Đức Chúa Trời đối với vấn đề tội lỗi của con người là yêu thương và buồn lòng, nên Ngài đã có một giải pháp cho vấn đề này: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết.” (Rô-ma 5:8)
Chúng ta đã nói về hậu quả của tội lỗi là đánh mất mối tương giao với Đức Chúa Trời; bây giờ chúng ta cần phải tìm hiểu xem như thế nào thì được gọi là tội lỗi. Điều đầu tiên chúng ta phải nói đến là tính pháp lý của một bản án dành cho một người phạm tội. Nói cách khác, đòi hỏi phải có một luật lệ được quy định thành văn bản thì mới có thể kết tội một người đã vi phạm là tội phạm. Như tác giả nói: “Điều đúng là những gì tuân theo quy định của luật pháp; điều sai là bất cứ điều gì tách khỏi tiêu chuẩn đó bằng cách này hay cách khác.” Cũng vậy, khi nói đến tội lỗi thì Kinh Thánh đang nói đến những người vi phạm luật pháp thành văn hoặc bất thành văn (trong lương tri con người) của Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, không phải cứ một người không vi phạm luật pháp thì hoàn toàn không phạm tội. Tác giả có dùng ẩn dụ về một người lái xe rất nghiêm túc và chiếc xe của anh ta cũng không có vấn đề gì về bên ngoài, thế nhưng anh ta lại bị phạt vì chiếc xe của anh ta thải ra quá nhiều khí (theo luật California). Tác giả nói: “Nếu chiếc xe thải ra môi trường một lượng chất gây ô nhiễm quá mức, hoặc bộ phận an toàn nào đó của xe bị trục trặc thì chiếc xe đã phạm luật và bị phạt thì cũng xứng đáng.” Cho nên, khi nói đến tội lỗi thì không chỉ là việc vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời mà còn là việc chúng ta không đạt tiêu chuẩn đạo đức từ bên trong con người của mình; và Đức Chúa Trời là Đấng đo lường tất cả theo tiêu chuẩn của Ngài chứ không theo tiêu chuẩn của con người. Đó là lý do tại sao Kinh Thánh nói “mọi người đều phạm tội.” (Rô-ma 3:23)
Như chúng ta đã nói ở trên, luật pháp của Đức Chúa Trời được thiết lập vì bổn tánh thánh khiết của Ngài, và Ngài là Đấng duy trì hệ thống luật pháp đó. Nên khi con người phạm tội thì có nghĩa là chúng ta đã trực tiếp phá vỡ hệ thống đó. Tác giả nói: “Nếu sự sai lầm đó, sự phá vỡ đó không được sửa chữa, trên thực tế Đức Chúa Trời sẽ không còn là Đức Chúa Trời nữa. Do đó, tội lỗi và người có tội đáng và thậm chí cần phải bị trừng phạt.” (trang 481)
Khi nói đến hình phạt đối với tội lỗi thì vấn đề thần học của hình phạt là nhằm mục đích gì? Quan điểm chính thống mà chúng ta đã nói xuyên suốt bài này là vì Đức Chúa Trời vừa thánh khiết nhưng cũng vừa yêu thương. Vì thế, hình phạt đối với tội lỗi không phải là làm thỏa mãn cơn giận của Ngài mà là đáp ứng sự yêu thương của Ngài đối với chúng ta. Điều này cũng dễ hiểu như cách chúng ta yêu thương con cái của mình thì mới sửa phạt để chúng không tiếp tục phạm tội và trở nên tốt hơn. Như tác giả thư Hê-bơ-rơ nói: “Chúa sửa trị những người Ngài yêu.” (Hê-bơ-rơ 12:6)
Tuy nhiên, tại đây chúng ta phải trả lời câu hỏi mà chúng ta đã thảo luận: Có phải hình phạt hay sự báo ứng đối với tội lỗi là luật nhân quả hay không? Về vấn đề này, tác giả đã trích lời của Ryder Smith: “Chắc chắn trong suy nghĩ của người Hê-bơ-rơ, hình phạt là báo ứng.” Cho nên, chúng ta có thể gọi là luật báo ứng hay luật nhân quả thì cũng không sao. Điểm khác biệt là nhiều người tin rằng luật nhân quả hay báo ứng chỉ là một sự ngẫu nhiên thay vì hiểu rằng Đức Chúa Trời mới chính là Đấng thiết lập và vận hành luật báo ứng này. Hơn nữa, nhiều người tin rằng luật này chuyển sang kiếp sau (luân hồi), trong khi Kinh Thánh cho chúng ta biết luật báo ứng của Chúa là ngay hiện tại hoặc trong tương lai trong dòng lịch sử của nhân loại này. Tác giả nói: “Trong phần lớn các trường hợp trong Cựu Ước, hình phạt được hình dung sẽ xảy ra trong thời gian lịch sử chứ không phải trong một hoàn cảnh vị lai.”
Ngoài ra, sự khác biệt lớn là nhiều người cho rằng luật nhân quả tiếp tục luân hồi, chuyển kiếp và không thể hóa giải; trong khi Kinh Thánh cho biết luật báo ứng có thể bị cắt đứt khi thái độ của con người thay đổi đối với tội lỗi — nói cách khác là khi con người ăn năn thì Chúa sẽ thay đổi quyết định của Ngài đối với hậu quả mà người đó đáng ra phải chịu. Tác giả nói: “Theo quan điểm Cơ Đốc giáo, sợi dây liên kết giữa tội lỗi và hình phạt có thể bị cắt đứt bởi sự ăn năn và thú nhận tội lỗi, nhờ đó nhận được sự tha thứ.”
Vấn đề sau cùng chúng ta cần thảo luận là hậu quả sau cùng của tội lỗi là gì? Tác giả trả lời rằng: “Sự chết là một trong những hậu quả hiển nhiên của tội lỗi.” Sự chết được tác giả chia làm ba phương diện: chết về thể xác, chết tâm linh và sự chết đời đời.
Khi nói về sự chết thể xác thì chúng ta cùng quay lại câu hỏi đã thảo luận trong lớp: Con người khi mới được dựng nên thì có bất tử hay không? Nếu không phạm tội thì con người có chết không? Tác giả cho biết trường phái Calvin tin rằng sự chết chỉ xuất hiện sau khi con người phạm tội; nói cách khác, A-đam được tạo dựng nên cách hoàn hảo — không có sự chết trong mình. Trong khi đó, trường phái Pelagius cho rằng con người được tạo dựng nên để phải chết. Nói cách khác, A-đam là con người chứ không phải Đức Chúa Trời, nên dù phạm tội hay không thì vẫn phải chết về thể xác.
Tất nhiên, quan điểm của Pelagius không được sự ủng hộ của toàn bộ Kinh Thánh. Phao-lô nhiều lần xác nhận rằng vì tội lỗi mà có sự chết. Chúa Giê-su khi nói về hôn nhân cũng dùng từ “ban đầu” (Ma-thi-ơ 19:4) để nói về tính hoàn hảo của sự sáng tạo từ Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Pelagius phản biện rằng nếu Chúa Giê-su là Đấng vô tội thì tại sao Ngài phải chết về thể xác? Sự phản biện này đi quá xa và lệch hướng, vì Chúa Giê-su không chết vì già yếu hay bệnh tật mà là chết vì hành động tội lỗi của con người. Ngài cũng không chết theo quy luật tự nhiên, mà Ngài tự nguyện chết vì mục đích cứu rỗi con người, và sau đó Ngài đã phục sinh.
Sau cùng, sự chết tâm linh được thấy rõ khi A-đam phạm tội thì không chết ngay lập tức về thể xác, nhưng ông đã lẩn tránh Đức Chúa Trời. Một hố sâu đã ngăn cách con người tội lỗi với Đức Chúa Trời; mối tương giao bị gãy đổ; mối quan hệ giữa tạo vật và Đấng Tạo Hóa bị chia cắt. Chúng ta gọi đây là sự chết tâm linh. Và sự chết tâm linh này cũng là nguồn cội cho sự chết đời đời. Vì khi con người còn sống trong thể xác mà tâm linh xa cách Đức Chúa Trời thì khi chết về thể xác, tâm linh của họ cũng sẽ xa cách Đức Chúa Trời đời đời.
Kết luận, tác giả nói: “Tội lỗi là một vấn đề nghiêm trọng; tội lỗi có ảnh hưởng sâu rộng — đến mối liên hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời, với chính mình và với những người khác. Chính vì thế, tội lỗi đòi hỏi một liệu pháp cũng có những ảnh hưởng sâu rộng tương ứng.” Và liệu pháp đó chính là: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết.” (Rô-ma 5:8 )
Tuy phần lớn quý thầy cô có chia sẻ một vài điểm giống nhau, từ đó tôi cho rằng tất cả đều đang sử dụng “nguồn Q”. Chúng ta nên tập viết bằng chính khả năng tiếp thu từ sách giáo khoa, kết hợp với tư duy suy luận và sự cảm thụ thần học riêng của mình. Thầy Thành đã làm tốt công tác trực tuần.



Bình luận