CÁCH ĐỨC CHÚA TRỜI TẠO DỰNG CON NGƯỜI (CHƯƠNG 24-25)
- Admin
- 31 thg 1
- 7 phút đọc
Quý thầy/cô thân mến!
Cảm tạ Chúa, chúng ta lại vừa hoàn tất tuần học thứ 2. Tuần này, chúng ta đã đi sâu hơn về "Hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người" ở Chương 24. Vấn đề thần học đầu tiên mà các nhà thần học tranh biện chính là việc con người được dựng nên giống như “hình và tượng” của Chúa (Sáng Thế Ký 1:26). Vậy câu hỏi đặt ra là: "hình" và "tượng" là hai thực thể riêng biệt hay chỉ là một?
1. Quan điểm về "Hình và Tượng"
Trước tiên, cần nói đến quan điểm của Thomas Aquinas: Ông cho rằng hình và tượng là hai thực thể riêng biệt. Thực tế, trước Aquinas đã có nhiều người giải thích theo hướng này.
Ví dụ, Origen xem “hình” là điều có sẵn từ lúc sáng thế, còn “tượng” là điều được Đức Chúa Trời (ĐCT) ban cho sau này.
Irenaeus thì cho rằng “hình” chỉ về lý trí và tự do, còn “tượng” là các ân tứ siêu nhiên từ Thánh Linh. Ông nói: khi A-đam phạm tội, ông đánh mất “tượng” (phẩm chất đạo đức) nhưng “hình” (bản chất tự nhiên) vẫn còn ở mức độ nào đó. Các quan điểm trên mở đường cho thần học tự nhiên, tin rằng con người có thể hiểu biết về Đức Chúa Trời dù không có mặc khải đặc biệt (Kinh Thánh).
Aquinas phát triển ý tưởng này và cho rằng sau khi sa ngã, con người chỉ mất đi phần “tượng” (sự thông công với Đức Chúa Trời và tính đạo đức nguyên thủy), dẫn đến khuynh hướng làm điều sai trái. Tuy nhiên, con người vẫn còn phần “hình” gồm lý trí, lương tâm và ý chí tự do. Do đó, con người vẫn có thể làm việc thiện hữu hình như yêu thương gia đình, giúp người nghèo hay xây dựng xã hội. Công giáo dựa vào đây để nhấn mạnh giá trị của việc lành và công đức trong sự cứu rỗi. Cá nhân tôi không đồng ý với điểm này, vì Kinh Thánh khẳng định mọi việc lành của con người đều bị bôi bẩn bởi tội lỗi và không thể dự phần vào công hiệu cứu rỗi (Ê-phê-sô 2:8-9). Tuy nhiên, ta phải thừa nhận đóng góp của Aquinas khi nhìn nhận hình ảnh ĐCT ở phương diện cấu trúc (bản thể).
2. Quan điểm Nhất thể của Luther và Calvin
Đối lập với Aquinas là quan điểm nhất thể của Martin Luther. Ông cho rằng “hình và tượng” là một cách dùng từ song lập trong văn phạm tiếng Hê-bơ-rơ; chúng chỉ là một ý nghĩa duy nhất. Luther phủ nhận việc con người còn giữ lại lý trí hay ý chí tự do sau sa ngã. Điều này dễ hiểu vì ông muốn bảo vệ giáo lý chủ đạo “Duy đức tin”. John Calvin cũng bác bỏ thuyết nhị nguyên này, tin rằng con người hoàn toàn hư hoại, không có khả năng tự chọn lựa tin Chúa nếu không có ân điển và sự tiền định của Ngài.
Cá nhân tôi không chọn thế bế tắc của Luther (làm sao chọn tin Chúa khi ý chí đã chết) hay sự khó khăn trong thuyết tiền định của Calvin (giải thích thế nào về sự hư mất của người không được chọn). Tôi ủng hộ quan điểm của tác giả Erickson: Sau sa ngã, hình ảnh Đức Chúa Trời không mất đi hoàn toàn vì nó là bản thể, nhưng nó bị biến dạng (mất đi chức năng ban đầu). Nó cần được phục hồi qua sự tái sinh trong Đấng Christ, nhờ sự trợ giúp của Đức Thánh Linh qua chân lý Kinh Thánh để hướng tới sự trọn vẹn như hình ảnh Chúa Giê-su.
3. Các quan điểm không chính thống và hiện đại
Mormon: Hiểu “hình và tượng” theo nghĩa đen, cho rằng Đức Chúa Trời có thân thể vật lý. Điều này sai lạc vì Chúa Giê-su khẳng định “Đức Chúa Trời là Thần linh”.
Karl Barth và Brunner (Quan điểm tương giao): Coi hình ảnh Đức Chúa Trời là chức năng (mối quan hệ) chứ không phải cấu trúc. Tác giả Erickson phê bình rằng họ đã xem nhẹ yếu tính bản thể.
Norman Snaith và Leonard Verduin (Quan điểm chức năng): Tập trung vào vai trò quản trị của con người. Họ tập trung vào việc giải thích công tác mà Đức Chúa Trời giao cho A-đam sau khi được tạo dựng thay vì giải thích lời phán của Đức Chúa Trời về cách mà Ngài tạo dựng ra A-đam.
Tôi cho rằng dù giải thích mang tính “thuộc linh” đến đâu nhưng sai về giải kinh thì cũng không thể chấp nhận. Việc bỏ qua mạch văn về tính cấu trúc là một thiếu sót. Con người có thể tương giao hay quản trị là vì họ mang hình ảnh Chúa, chứ không phải vì họ tương giao nên mới có hình ảnh đó. Giống như máy tính: vì có bộ vi xử lý và phần cứng (cấu trúc) nên nó mới kết nối internet (chức năng) được, chứ không phải vì nó lướt Facebook mà nó trở thành máy tính.
Bây giờ chúng ta bước qua Chương 25 nói về bản chất cấu tạo của con người. Tại chương này, chúng ta đã được tham khảo ý kiến của nhiều nhà thần học về việc tính chất cấu tạo của con người như thế nào. Theo tác giả, có ba trường phái quan trọng là phái tam phân, nhị phân và nhất nguyên.
Trước tiên, chúng ta hãy nói về thuyết nhất nguyên. Thuyết này cho rằng con người được tạo dựng là một thực thể duy nhất mà không chia ra thân xác và linh hồn riêng biệt như thuyết nhị phân, hoặc chia ra làm ba phần là thân xác, hồn và linh như thuyết tam phân.
Nhân vật quan trọng đầu tiên của quan điểm này là A.J. Ayer đến từ chủ nghĩa duy vật. Ayer không tin rằng linh hồn có thể tồn tại khi không có thân xác. Nói cách khác, ông ta cho rằng con người là một thực thể nhất nguyên theo nghĩa thể xác mà không có linh hồn. Chúng ta không bàn sâu về quan điểm này vì nó phi Kinh Thánh, nhưng ít nhất nó cũng được xem như một dạng của quan điểm nhất nguyên.
Nhân vật thứ hai là John A. T. Robinson. Ông cho rằng linh hồn con người không phải là một thứ gì đó được giấu trong thân xác, nhưng nó được tạo dựng nên như một khối thống nhất với thân xác. Từ quan điểm đó, ông chú trọng đến việc cứu rỗi cả về thể xác qua sự phục sinh. Bế tắc của quan điểm này là không giải thích được linh hồn sẽ như thế nào khi con người qua đời. Luận điểm của Robinson dựa trên việc giải thích bối cảnh văn hóa của từ ngữ Kinh Thánh, cho rằng người Hê-bơ-rơ xem con người là một thực thể toàn diện. Ông cũng bác bỏ thuyết tam phân vì cho rằng nó bị ảnh hưởng bởi triết học Hy Lạp; tuy nhiên theo tác giả, Robinson không đưa ra được bằng chứng xác đáng nào cho cáo buộc này. Điều thú vị là tác giả có đề cập đến James Barr, một học giả Cựu Ước đã phản biện quan điểm của Robinson khi dùng cấu trúc từ ngữ để phủ nhận tính nhị nguyên.
Bây giờ chúng ta nói về thuyết nhị phân của Clark và DeWolf. Theo tác giả, thuyết này được ủng hộ nhiều trong lịch sử Hội Thánh. Theo tôi, nếu chúng ta có nói thuyết này ảnh hưởng triết học Hy Lạp thì cũng không sai, vì Plato cũng tin vào thuyết nhị nguyên khi cho rằng con người không chỉ có thể xác mà còn có linh hồn bất diệt. Đây cũng chính là luận điểm quan trọng trong thuyết nhị phân của Clark và DeWolf. Điểm đáng chú ý là những nhà thần học thuộc phái Cải chánh như John Calvin và Ulrich Zwingli cũng chấp nhận quan điểm của thuyết nhị phân khi cho rằng sau khi rời thể xác, linh hồn vẫn tồn tại và bất diệt.
Sau cùng, chúng ta nói về thuyết tam phân. Những nhân vật đại diện cho thuyết này là Clement và Origen. Thuyết này được chấp nhận và giảng dạy trong thần học cổ đại nhất của Cơ Đốc giáo. Thuyết này cho rằng: Thân xác: là phần vật chất, tạm thời, dễ mục nát. Linh hồn: là phần của tâm lý, cảm xúc, trí tuệ và ý chí. Tâm linh (Linh): là phần liên kết trực tiếp với Đức Chúa Trời, trung tâm của đời sống thuộc linh.
Tuy nhiên, đến thời của Augustine, giáo hội trở lại với thuyết nhị phân; đến thời Trung cổ thì thần học tam phân này bị lãng quên. Sau đó đến thời Cải chánh, các nhà thần học như Calvin và Zwingli cũng theo thuyết nhị phân. Theo tác giả, thuyết tam phân chỉ được phục hồi vào khoảng giữa và cuối thế kỷ 19, đặc biệt trong các phong trào Ân tứ.
Cuối cùng, tôi muốn trích dẫn chính quan điểm của tác giả, cũng là quan điểm mà tôi chia sẻ: Erickson chấp nhận mô hình “hợp nhất có điều kiện” là cách hiểu phù hợp nhất với toàn bộ dữ liệu Kinh Thánh về bản chất con người. Theo ông, con người bình thường là một thực thể duy nhất giữa thể xác và linh hồn, và đây là hiện trạng bình thường của con người. Tuy nhiên, sự hợp nhất này có thể bị “gián đoạn” bởi cái chết, và sẽ tái hợp trong sự phục sinh bằng một thân thể mới. Nói như vậy cũng có nghĩa là quan điểm của tôi gần với thuyết nhị phân hơn.
Tôi đánh giá cao bài thảo luận của đa số quý thầy cô cả về nội dung lẫn hình thức. Tuy nhiên, vẫn còn một số bài chưa thể hiện rõ văn phong cá nhân và chưa bày tỏ quan điểm riêng. Cô Thúy Hằng đã hoàn thành tốt vai trò tuần trưởng.



Bình luận